Thành Phần Trình Diễn Ca Trù

Thành Phần Trình Diễn Ca Trù

Một chầu hát Ca Trù cần có ba thành phần trình diễn chính:

  • Một nữ ca sĩ gọi là “đào” hay “ca nương”, sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp.
Phách trình diễn ca trù
Phách. Nguồn: Wikipedia
  • Một nhạc công nam giới gọi là “kép”, chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát. Nhạc công đàn đáy có lúc hát thể cách hát sử và hát giai, vừa đàn vừa hát.
Đàn Đáy
Đàn Đáy. Nguồn: kyluc.vn
  • Người thưởng ngoạn gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát. Đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Cụ Hoàng Kỷ, Đệ nhất trống chầu Việt Nam
Cụ Hoàng Kỷ, Đệ nhất trống chầu Việt Nam. Nguồn: BaoMoi

Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ.

Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên.

Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “tức tịch,” nghĩa là “ngay ở chiếu”.

Sơ đồ thành phần trình diễn Ca Trù
Sơ đồ thành phần trình diễn Ca Trù

Âm Nhạc Ca Trù

Ca trù vừa là loại thanh nhạc, vừa là loại khí nhạc. Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.

  • Thanh Nhạc

Ca nương phải có giọng thanh – cao – vang, khi hát phải biết ém hơinhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến.

Ca nương vừa hát, vừa gõ phách.

Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.

  • Khí Nhạc

Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa.

Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn.

Có những cách đàn ca chân phương (theo lề lối) hay hàng hoa (sáng tạo và bay bướm).

  • Quan viên là người cầm chầu

Tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu.

Nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn.

Giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay – thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.

Một Số Tác Phẩm Ca Trù Nổi Tiếng

Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao.

Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:

  • Cao Bá Quát với “Tự Tình”, “Hơn Nhau Một Chữ Thì”, “Phận Hồng Nhan Có Mong Manh”, “Nhân Sinh Thấm Thoắt”…
  • Nguyễn Công Trứ với “Ngày Tháng Thanh Nhàn”, “Kiếp Nhân Sinh”, “Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi”, “Trần Ai Ai dễ biết Ai”…
  • Dương Khuê với “Hồng Hồng, Tuyết Tuyết” tức “Gặp Đào Hồng Đào Tuyết”.
  • Chu Mạnh Trinh với “Hương Sơn Phong Cảnh”.
  • Tản Đà với “Gặp Xuân”,”Xuân Tình”, “Chưa Say”, “Trần Ai Tri Kỷ”, “Đời Đáng Chán”,…
  • Nguyễn Khuyến với “Hỏi Phỗng Đá”, “Duyên Nợ”
  • Nguyễn Thượng Hiền với “Chơi Chùa Thầy”;
  • Trần Tế Xương với “Hát Cô Đầu”

Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như “Tỳ Bà Hành” (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo bản cổ của Bạch Cư Dị).

Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai… cũng thuộc thể Ca Trù.

Thành Phần Trình Diễn Ca Trù

Nguồn: Wikipedia

Tham khảo các bài viết khác về Nghệ Thuật Ca Trù

Kênh Khám Phá

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *